Chào mừng đến với Investlink
Đầu tư: Dịch vụ môi trường lên ngôi

Đầu tư: Dịch vụ môi trường lên ngôi

Vấn đề môi trường là vấn đề bức thiết và là mối quan tâm rất lớn của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Ngân sách của hầu hết các quốc gia trên thế giới không thể chi đầu tư cho lĩnh vực này. Do đó, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đang là một sự kỳ vọng rất lớn cho việc phát triển trong lĩnh vực môi trường, đặc biệt là lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ môi trường.
Hàng hoá môi trường là các hàng hoá được sử dụng cho mục đích bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường như các trang thiết bị xử lý chất thải, tấm pin năng lượng mặt trời, thiết bị tiết kiệm năng lượng,… Dịch vụ môi trường là các hoạt động dịch vụ của con người nhằm phòng ngừa, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường; bao gồm 2 bộ phận chính: Dịch vụ liên quan đến hạ tầng cơ sở (như dịch vụ vệ sinh, xử lý chất thải,…) và Dịch vụ thương mại liên quan đến môi trường (buôn bán tín chỉ carbon, hạn mức xả thải,…).

Hiện Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) đã đưa ra danh mục 54 hàng hoá môi trường. Việt Nam không có danh sách riêng về hàng hóa và dịch vụ môi trường. Dựa vào Quyết định số 39/2010 / QĐ-TTg về việc ban hành hệ thống sản phẩm Việt Nam và Điều 150 của Luật Bảo vệ môi trường 2014 về việc phân loại các dịch vụ môi trường có thể lập được danh sách về hàng hóa và dịch vụ môi trường bao gồm các lĩnh vực sau:

–        Khai thác, lọc (làm sạch), cung cấp nước

–        Xử lý chất thải

–        Thoát nước và xử lý nước thải

–        Thu gom, xử lý, tái chế chất thải

–        Thu gom chất thải

–        Thu gom và xử lý chất thải không nguy hại

–        Thu gom và xử lý chất thả ngày hại

–        Xử lý chất thải và thanh lý chất thải

–        Xử lý chất thải và thanh lý chất thải không nguy hại

–        Xử lý chất thải và thanh lý chất thải nguy hại

–        Tái chế vật liệu phế thải

–        Xử lý ô nhiễm và quản lý chất thải khác

–        Cung cấp hệ thống nước (cấp và thoát nữa), máy lạnh…

–        Dịch vụ vệ sinh

–        Vệ sinh của toàn bộ tòa nhà

–        Vệ sinh khác

–        Dịch vụ cảnh quan

Thực trạng Việt Nam

Tình hình đầu tư vào lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ môi trường tại Việt Nam:

Ngày 06/01/2017, Bộ Tài chính ban hành ra Thông tư số 02/2017/TT-BTC có hiệu lực kể từ ngày 22/02/2017 hướng dẫn về quản lý kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường. Theo đó, kinh phí của Việt Nam chi cho sự nghiệp môi trường không dưới 1% tổng chi ngân sách nhà nước[1]; định mức phân bổ chi sự nghiệp môi trường của ngân sách địa phương là 85%, của ngân sách trung ương là 15%[2].

Trong khi đó, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi trường tại Việt Nam ngày càng tăng và chủ yếu tập trung vào xử lý rác thải, thoát nước và xử lý nước.

Theo số liệu thống kê được,năm 2006 có 369 doanh nghiệp ngành hàng hóa, dịch vụ môi trường (trong đó, trong nước có 361 doanh nghiệp còn lại 8 doanh nghiệp nước ngoài) nhưng tới năm 2011, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đã có chuyển biến đáng kể: tăng gấp 2,5 lần đối với doanh nghiệp trong nước và gấp 4,6 lần đối với doanh nghiệp nước ngoài; cụ thể là có 891 doanh nghiệp trong nước và 37 nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực này. Mặt khác, thực trạng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài theo lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ môi trườngphân bổ không đồng đều; lĩnh vực xử lý chất thải và xử lý nước được chiếm tỷ lệ phần trăm nhiều nhất, cụ thể là lĩnh vực xử lý nước chiếm 31%, xử lý chất thải chiếm 31%, 24% là dịch vụ vệ sinh, 7% nước uống và 7 % là dịch vụ mặt bằng.

Pháp luật Việt Nam:

Hiện nay, Việt Nam đã có các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ môi trường trong hầu hết các phân ngành dịch vụ môi trường của WTO như dịch vụ xử lý nước thải (CPC 9401), dịch vụ xử lý rác thải (CPC 9402), dịch vụ làm sạch khí thải, dịch vụ xử lý tiếng ồn (CPC 94050) và dịch vụ đánh giá tác động của môi trường (CPC 94090).

Theo đó, để phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và để mở cửa cho thị trường về hàng hóa và dịch vụ môi trường phát triển hơn thì hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã có những thay đổi đáng kể. Cụ thể là:

Hiến pháp năm 2013 – văn bản có giá trị cao nhất trong hệ thống pháp luật – đã bổ sung thêm các quy định về vấn đề môi trường tại Điều 63[3] mà trước đó Hiến pháp năm 1992 chưa đề cập tới.

Về pháp luật chuyên ngành, trước năm 2006 khi Luật bảo vệ môi trường 1993 có hiệu lực thì các quy định chỉ dừng lại dạng quy định chung: “nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng và khai thác hợp lý thành phần môi trường, áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch, tận dụng chất thải, tiết kiệm nguyên liệu, sử dụng năng lượng tái sinh, chế phẩm sinh học trong nghiên cứu khoa học, sản xuất và tiêu dùng”[4] và có chính sách ưu tiên đối với các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học về môi trường, áp dụng công nghệ sạch, xây dựng và thực hiện các dự án cải thiện môi trường, khắc phục sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các dự án xử lý chất thải ở Việt Nam”[5]. Nhưng sau khi Luật bảo vệ môi trường 2014 được ban hành và có hiệu lực thì các quy định đã được bổ sung thêm, rõ ràng hơn và cụ thể hơn trước rất nhiều, thể hiện ở việc là nhà nước không chỉ “khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập doanh nghiệp dịch vụ môi trường thông qua hình thức đấu thầu, cơ chế hợp tác công tư”[6]mà còn “có những ưu đãi, hỗ trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường”[7]; “đầu tư và có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân phát triển công nghiệp môi trường; xây dựng đầu tư, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật xử lý và tái chế chất thải; hình thành và phát triển các khu xử lý, tái chế chất thải tập trung; sản xuất, cung cấp thiết bị, sản phẩm phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường”[8].

Kèm theo các quy định trên, nhà nước còn hướng dẫn cụ thể các ưu đãi đầu tư trên ở các luật khác như:

Trong Luật đầu tư 2014 có quy định các nhà đầu tư nếu có các dự án thuộc ngành nghề đầu tư tại Điều 16, gồm:

–        Hoạt động công nghệ cao, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao; hoạt động nghiên cứu và phát triển;

–        Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng từ 30% trở lên, sản phẩm tiết kiệm năng lượng;

–        Thu gom, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải;

thì nhà đầu tư được hưởng các ưu đãi về thuế và ưu đãi về tiền thuê đất, tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 15:

–        Áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp;

–        Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư;

–        Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất.

Trong Luật Thuế nhập khẩu 2016, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực và/hoặc các khu vực địa bàn khuyến khích đầu tư hoặc đặc biệt khuyến khích đầu tư, được phép nhập khẩu các sản phẩm mà không phải trả thuế. Hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mới trước đây không có ở Việt Nam cũng đang được miễn thuế nhập khẩu.

Ngoài ra, nếu các nhà đầu tư trong ngành hàng hóa và dịch vụ môi trường đưa ra công nghệ mới sẽ được hưởng lợi từ sự bảo hộ đó theo các điều kiện quy định theo Luật Sở hữu trí tuệ.

Bên cạnh hệ thống pháp luật, từ năm 2006 đến nay, nhiều chủ trương liên quan đến lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ môi trường như: Nghị quyết 24-NQ/TW năm 2013 chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường do Ban chấp hành Trung ương ban hành, Nghị quyết 08/NQ-CP năm 2014 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường do Chính phủ ban hành,…

Như vậy, pháp luật Việt Nam đang được cải thiện hơn và đã có những thay đổi tích cực phù hợp với tình hình đầu tư trong lĩnh vực môi trường nói chung và lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ môi trường nói riêng. Từ đó, Việt Nam có thể từng bước hội nhập với thế giới.

Xu hướng phát triển

Thế giới

Hiện nay, các nước trên thế giới đang hướng đến phát triển các nguồn năng lượng sạch, năng lượng mới và năng lượng tái tạo(thủy điện nhỏ, năng lượng gió, năng lượng sinh khối, năng lượng khí sinh học, nhiên liệu sinh học, năng lượng từ nguồn rác thải sinh hoạt, năng lượng mặt trời và năng lượng địa nhiệt).

Nước Mỹ đã sử dụng trợ cấp để đầu tư cho lĩnh vực năng lượng mặt trời rất hiệu quả, biểu hiện là các nhu cầu về năng lượng mặt trời tăng nhanh, các dự án năng lượng mặt trời có quy mô – tiện ích cũng tăng trưởng nhanh chóng, thu hút thành công các nhà đầu tư tư nhân vào các dự án năng lượng mặt trời, các công ty lắp đặt tấm pin năng lượng mặt trời cho dân cư cũng hoạt động thành công…

Ở Trung Quốc, Chính phủ cũng sử dụng trợ cấp để tác động vào việc triển khai đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực “xanh”; đưa ra các ưu đãi thuế ở cấp quốc gia và địa phương nhằm phát triển năng lượng xanh và làm Trung Quốc trở thành nơi có vốn đầu tư tư nhân vào năng lượng sạch lớn nhất trên toàn thế giới vào năm 2010…

Không chỉ có Mỹ, Trung Quốc mà ngay cả liên minh châu Âu cũng đang tích cực phát triển, sử dụng nguồn năng lượng tái tạo như: Hà Lan – quốc gia đầu tiên trên thế giới có 100% số đoàn tàu hoạt động hoàn toàn bằng điện được tạo ra từ gió – cũng đang hy vọng trở thành một trong những nước đầu tiên đạt được mục tiêu: sản xuất 14% tổng sản lượng điện từ các nguồn năng lượng tái tạo vào năm 2020; ở nước Đức – nơi có nhiều nguồn sản xuất điện (như điện hạt nhân, nhiệt điện, điện gió, điện mặt trời) mà người dân ở đây còn được trả tiền để sử dụng điện do nguồn điện sản xuất dư thừa – cũng đang đặt mục tiêu đến năm 2050 sử dụng 100% năng lượng tái tạo…

Việt Nam

Bên cạnh việc phát triển các nguồn năng lượng tái tạo của các quốc gia, Việt Nam cũnglà một nước rất có tiềm năng để phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo. Một ví dụ điển hình như:

Việt Nam là một trong những quốc gia có ánh nắng mặt trời nhiều nhất trong biểu đồ bức xạ mặt trời – là nước có tiềm năng lớn về nguồn năng lượng mặt trời và có thể phát triển được ngành công nghiệp điện mặt trời. Hiện tại, Việt Nam cũng đã có dự án Nhà máy quang điện mặt trời Thiên Tân(Quảng Ngãi) của Công ty Đầu tư và Xây dựng Thiên Tân làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư 800 tỉ đồng và dự án nhà máy điện mặt trời Tuy Phong (Bình Thuận) do Công ty TNHH DooSung Vina (Hàn Quốc) đầu tư với quy mô 66 triệu USD. Hai dự án trên đã cho thấy một dấu hiệu tốt trong việc phát triển ngành công nghiệp năng lượng điện mặt trời của Việt Nam trong tương lai, dần mở ra cơ hộicho nước ta bắt nhịp được với xu thế năng lượng sạch hiện nay của thế giới.

Ngoài hai dự án trên, còn các dự án khác mà tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đang dự định triển khai nghiên cứu phát triển như dự án trên đất liền tại thủy điện Trị An (Đồng Nai), dự án điện mặt trời nổi tại hồ thủy điện Đa Mi (Bình Thuận)…

Việt Nam cũng có tiềm năng trong việc phát triển nguồn năng lượng về gió. Điển hình là mới đây, Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức cũng có dự án “ Hỗ trợ mở rộng quy mô điện gió” (Dự án Gió DKTI) nhằm hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam khai thác và ứng dụng hiệu quả nguồn năng lượng này. Bên cạnh đó, còn có một số dự án phong điện tại Tây Nguyên (Đắk Lắk) – là một trong những nơi có nguồn năng lượng gió tốt nhất tại Việt Nam, đang được dự kiến triển khai từ nay cho đến năm 2020 và có thể trở thành nhà máy điện gió có công suất lớn nhất Việt Nam, có khả năng cung cấp điện cho 200 ngàn hộ dân sau khi được hoàn thành cả 3 giai đoạn của dự án.

Về mặt pháp luật,

Cùng với việc phát triển các dự án về các nguồn năng lượng tái tạo thì các quy định pháp luật của Việt Nam cũng dần mở rộng hơn trước.

Theo đó, nhà nước khuyến khích tổ chức cá nhân đầu tư xây dựng lưới điện hoặc các trạm phát điện sử dụng năng lượng tại chỗ, năng lượng mới, năng lượng tái tạo để cung cấp điện cho vùng nông thôn, miền núi, hải đảo[9] và có các chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư phát triển nhà máy điện sử dụng các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo[10], bao gồm: các ưu đãi về đầu tư, giá điện và thuế[11].

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với đề xuất của Bộ Công Thương về việc ban hành cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án phát triển điện mặt trời tại Việt Nam. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng giao cho các bộ ngành liên quan để xây dựng cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện mặt trời như biểu giá điện và các khoản ưu đãi về thuế.

Nhìn chung, lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ môi trường là một lĩnh vực luôn có rất tiềm năng phát triển. Thực trạng và xu thế phát triển của Việt Nam đã cho thấy rằng Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ môi trường. Để phát triển hơn nữa trong lĩnh vực này cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư (đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài) tham gia, hoạt động thì hệ thống pháp luật Việt Nam cần phải hoàn thiện hơn nữa:

Thứ nhất, cần phải đơn giản hóa các thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, giấy phép lao động, giấy phép môi trường… để các nhà đầu tư nắm bắt và thực hiện dễ dàng hơn, đặc biệt là đối với nhà đầu tư nước ngoài;

Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan đến môi trường sao cho phù hợp với các cam kết về môi trường mà Việt Nam đã tham gia (Các cam kết trong WTO…);

Thứ ba, nên quy định thêm các ưu đãi cũng như hỗ trợ hơn nữa cho các nhà đầu tư hoạt động trong lĩnh vực này.

Ngoài ra, nhà nước cần cung cấp thông tin, tuyên truyền và nâng cao nhận thức của người dân nhiều hơn nữa về hàng hóa, dịch vụ môi trường và có thêm các ưu đãi cho việc sử dụng chúng ./.

Chuyên viên tư vấn

Trần Thị Yến Vi

 

 

 

© Inveslink xác nhận đã thu thập thông tin trong tài liệu này từ những nguồn mà chúng tôi cho là đáng tin cậy. Trong khi chúng tôi không nghi ngờ tính chính xác của thông tin, chúng tôi đã kiểm chứng bằng khả năng và mức độ có thể tuy nhiên sẽ không bảo đảm, cam đoan chắc hay đại diện cho các thông tin này. Quý độc giả có trách nhiệm kiểm chứng độc lập tính chính xác và toàn vẹn của thông tin. Tài liệu này được sử dụng riêng cho khách hàng và chuyên gia của Inveslink sử dụng. Mọi bản quyền được bảo lưu. Không được sao chép tài liệu dưới mọi hình thức nếu không được CBRE chấp thuận trước bằng văn bản.

Giới thiệu về Inveslink.

Inveslink là công ty chuyên tư vấn đầu tư cho các dự án  đầu tư trong và ngoài nước. Khách hàng của Inveslink khá phong phú về lĩnh vực như Polazits, Uniplast, MeKong Capital, PEB, Riverochid, Esuhai…Các dự án mà Invselink thực hiện khá thành công trong nhiều lĩnh vực như sản xuất công nghiệp, bất động sản, đầu tư tài chính, truyền thông, nông nghiệp công nghệ cao… Vui lòng xem thêm chi tiết tại websiteinvestlink.vn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] Điểm c khoản 1 Điều 3 Thông tư số 02/2017/TT-BTC hướng dẫn quản lý kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường;

[2] Theo Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2011;

[3] Điều 63 Hiến pháp 2013“1. Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

2. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo. 

3. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.”

[4] Theo Điều 11 Luật bảo vệ môi trường năm 1993

[5] Theo Điều 46 Luật bảo vệ môi trường 1993

[6] Theo quy định tại Điều 150 Luật bảo vệ môi trường 2014

[7] Theo Điều 151 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định:

“Nhà nước ưu đãi, hỗ trợ các hoạt động bảo vệ môi trường sau:

a) Xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt;

b) Xây dựng cơ sở tái chế, xử lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại, khu chôn lấp chất thải;

c) Xây dựng trạm quan trắc môi trường;

d) Xây dựng cơ sở công nghiệp môi trường, công trình bảo vệ môi trường phục vụ lợi ích công cộng;

đ) Sản xuất, kinh doanh sản phẩm thân thiện với môi trường;

e) Chuyển đổi hoạt động của khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.”

[8] Theo Điều 153 Luật bảo vệ môi trường 2014

[9] Theo quy định tại khoản 4 Điều 60 Luật điện 2004

[10] Theo khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện lực 2012 có quy định:

4. Đẩy mạnh việc khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo để phát điện; có chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư phát triển nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo.”

[11] Theo điểm c khoản 1 Điều 13 Luật điện 2004 quy định:

 “1. Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích tiết kiệm điện bằng các chính sách sau đây:

c) Dự án đầu tư phát triển nhà máy phát điện sử dụng các nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo được hưởng ưu đãi về đầu tư, giá điện và thuế theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.”

Tác giả

Gởi phản hồi

Email sẽ không bị hiển thị public. Trường bắt buộc nhập *