Chào mừng đến với Investlink
Quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội

Quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội

Mạnh Cường

Bà Phương Hằng “bóc phốt” và nhân tiện miệt thị một số người trên livestream, NathanLee “chửi” Cao Thái Sơn trên trang cá nhân, Hòa Minzy và một số nghệ sĩ khác chia sẻ thông tin sai sự thật, thiếu kiểm chứng về Covid-19 trên mạng xã hội… Có thể thấy mạng xã hội là một công cụ hữu dụng để mọi người có thể thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình. Liệu rằng, việc thực hiện tự do ngôn luận trên mạng xã hội có thật sự “tự do”?

Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận

Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản và quan trọng của mọi người. Với quyền này mọi người có thể tự do biểu đạt quan điểm và ý kiến của mình.

Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”. Hiến pháp Việt Nam cũng trao cho công dân “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí…”. Quyền tự do ngôn luận cũng được ghi nhận trong Luật Báo chí 2016 bao gồm quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí.

Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận không phải tuyệt đối mà có thể bị đặt trong một khuôn khổ nhất định để không bị lợi dụng, dẫn tới phương hại đến quyền, lợi ích của cá nhân khác hay ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, trật tự công cộng. Theo Hiến pháp, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận do pháp luật quy định. Luật Báo chí 2016 cũng quy định những hạn chế này tại Điều 9 về các hành vi bị cấm và Điều 13 về trách nhiệm của Nhà nước.

Giới hạn về quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội

Với sự phát triển chóng mặt của mạng xã hội đặc biệt là trang mạng Facebook, mọi người có thể tự do chia sẻ thông tin dưới dạng bảng tin, livestream hay nhiều hình thức khác, trong đó có nhiều thông tin được xem như sản phẩm thông tin có tính báo chí.

Trước đây, trong dự thảo Luật Báo chí 2016 về “Sản phẩm thông tin có tính chất báo chí” đã thêm cụm từ mạng xã hội, tuy nhiên khi Quốc hội thông qua Luật Báo chí thì cụm từ này không còn xuất hiện nữa. Vì mạng xã hội mang tính hỗn hợp (vừa có thông tin mang tính chất báo chí vừa có thông tin mang tính chất khác), hay những khó khăn trong việc kiểm soát đối với nhà cung cấp mạng ở nước ngoài… nên việc quản lý quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội được đề xuất điều chỉnh bởi một văn bản quy phạm pháp luật khác. Tính đến thời điểm đó chỉ có Nghị định 72/2013/NĐ-CP và Nghị định 174/2013/NĐ-CP là có những quy định liên quan đến quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội.

Như vậy, phần lớn các thông tin có tính báo chí khi đăng trên mạng xã hội đã không được điều chỉnh bởi Luật Báo chí. Điều này góp phần gây ra những khó khăn trong việc quản lý của cơ quan nhà nước vì những quy định tại Nghị định còn mang tính chung không rõ ràng.

Trong khi nhiều thông tin báo chí hay thông tin khác không được kiểm chứng, sai sự thật xuất hiện ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, việc quản lí quá gắt gao có khả năng “đụng chạm” đến quyền tự do ngôn luận công dân. Do đó, chính cơ quan quản lí nhà nước cũng phải cân nhắc trước khi đưa ra quyết định xử lý.

Sau khi Luật An ninh mạng 2018 được thông qua, quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội đã được đặt dưới sự điều chỉnh của một văn bản luật thay vì Nghị định như trước kia. Các thông tin khi được đăng tải lên các trạng mạng xã hội đã được theo dõi sát sao hơn. Kể cả các sản phẩm thông tin có tính báo chí khi đăng trên mạng xã hội ngày nào bị “bỏ qua” nay đã được kiểm duyệt chặt chẽ hơn. Cụ thể, khoản 1 Điều 8 Luật An ninh mạng đã liệt kê ra các hành vi bị cấm khi sử dụng không gian mạng để làm căn cứ pháp lý xử phạt những hành vi vi phạm, trong đó có điều khoản dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 18 Luật An ninh mạng để trình bày rõ ràng hơn các trường hợp vi phạm.

Những quy định tại Luật An ninh mạng đã không còn mang tính chung, không rõ ràng như tại Nghị định 72/2013/NĐ-CP hay Nghị định 174/2013/NĐ-CP mà đã được cụ thể hơn giúp cơ quản quản lý nhà nước “mạnh tay” trong việc xử lý các hành vi vi phạm. Như vậy, Luật An ninh mạng phần nào đã khắc phục hạn chế, thiếu sót về hành lang pháp lý đã tồn tại trong suốt thời gian dài, góp phần đảm bảo không gian mạng lành mạnh, an toàn.

Bên cạnh Luật An ninh mạng, Nghị định 15/2020/NĐ-CP cũng đưa ra mức phạt tiền từ 10-20 triệu đồng và biện pháp khắc phục hậu quả buộc gỡ bỏ thông tin vi phạm khi thực hiện các hành vi vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội. Thấy được rằng các cơ quan quản lý nhà nước đã thật sự nghiêm khắc trước các hành vi vi phạm.

Một ví dụ cụ thể trong thời gian qua về bà Phương Hằng, cái tên “hot” với những clip Livestream trên mạng xã hội Facebook đạt số lượng lớn người xem, đã từng bị xử phạt bởi hành vi vi phạm quyền tự do ngôn luận trên mạng xã hội. Tháng 4/2021, bà Hằng đã bị Sở Thông tin và Truyền thông xử phạt 7,5 triệu đồng vì cung cấp thông tin sai sự thật, xúc phạm uy tín của UBND tỉnh Bình Thuận và danh dự của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận.

Tự do ngôn luận trên mạng xã hội là quyền của mọi người tuy nhiên khi tham gia vào mạng xã hội mọi người cũng phải biết “kiềm chế” vì quy định pháp luật ngày càng chặt chẽ đặt ra những hạn chế trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận.

Tác giả

Gởi phản hồi

Email sẽ không bị hiển thị public. Trường bắt buộc nhập *