Công ty mỏng vốn
Cẩm Tú
Trong ba năm thực hiện Nghị định 20/2017/NĐ-CP về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, nhiều công ty đã ngỡ ngàng rơi vào tình trạng không được trừ các chi phí vay cho hoạt động kinh doanh của mình. Theo phân tích của các chuyên gia, đây không phải bất cập của luật mà do các doanh nghiệp chưa chú trọng đến hậu quả “vốn mỏng” đến lợi ích của nhà nước.
Các chi phí vay không được trừ trong kì tính thuế
Các công ty “vốn mỏng” có số vốn chủ sở hữu thấp, khi đầu tư kinh doanh, các công ty này sẽ đi vay một số vốn lớn mà hầu hết từ công ty mẹ trong nước hoặc nước ngoài. Tuy nhiên, các giao dịch này không đơn thuần là cho vay vốn mà nó có thể tạo nên mối liên kết để các công ty này chuyển giá, tối thiểu hóa chi phí tài chính và thuế.
Giao dịch cho vay thể hiện mối quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp được Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định và tiếp tục duy trì ở Nghị định 132/2020/NĐ-CP như sau:“Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay”.
Qua quy định này, doanh nghiệp phải lưu ý đến hai tỷ lệ sau:
- Tỷ lệ vốn cho vay của một doanh nghiệp trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay.
- Tỷ lệ vốn cho vay của doanh nghiệp đó trên tổng nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay.
Ví dụ: doanh nghiệp A có vốn chủ sở hữu là 10 tỷ, tổng giá trị nợ trung và dài hạn là 90 tỷ, trong đó vay của doanh nghiệp B 60 tỷ.
Dựa theo thông tin trên, doanh nghiệp B cho doanh nghiệp A vay bằng 600% vốn chủ sở hữu và bằng 67% tổng nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp A. Như vậy, hai doanh nghiệp này có mối quan hệ liên kết.
Hiện nay, hiện tượng doanh nghiệp “vốn mỏng” xảy ra ở các quốc gia như Trung Quốc, Liên bang Nga. Trong khi ở các quốc gia như Anh, Mĩ, Canada, Venezuela thì vốn vay chỉ bằng hoặc gấp 1,5 đến 2 lần vốn chủ sở hữu. Ở Việt Nam, vốn vay có thể gấp 7 đến 8 lần, nhìn chung đó là tỷ lệ rất cao.
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên vốn vay của các nước
Để hạn chế hiện tượng này, Nghị định 20/2017/NĐ-CP quy định: “Tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 20% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng với chi phí lãi vay, chi phí khấu hao trong kỳ của người nộp thuế.”
Nghị định 20/2017/NĐ-CP đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Riêng vấn đề vốn vay, Nghị định 132 nâng tổng chi phí lãi phát sinh được trừ lên thêm 10%, bên cạnh đó, quy định rõ ràng hơn về cách xác định hạn mức lãi suất được trừ như sau: “Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế”.
Ví dụ: Năm 2020, doanh nghiệp A có mối quan hệ liên kết thu được tổng lợi nhuận thuần trước thuế là 10 tỷ, tổng chi phí lãi vay là 20 tỷ, khấu hao là 5 tỷ, tổng lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kì là 1 tỷ. Như vậy, tổng chi phí lãi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế được tính như sau:
(10 tỷ + 20 tỷ + 5 tỷ – 1 tỷ) × 30% = 10.2 tỷ
Chi phí lãi vay không được trừ = 20 tỷ – 1 tỷ – 10.2 tỷ = 6.8 tỷ.
Năm 2021, để được trừ dần chi phí lãi còn lại của năm 2020 thì doanh nghiệp A phải có tổng chi phí lãi thấp hơn 30%. Giả sử tổng chi phí lãi vay của doanh nghiệp A là 5 tỷ và các thông số còn lại không đổi thì chi phí lãi vay được trừ của năm 2021 là:
(10 tỷ + 5 tỷ + 5 tỷ – 1 tỷ) 30% = 5.7 tỷ
Tổng chi phí lãi của năm 2021 mới chỉ 4 tỷ (sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong năm 2021), như vậy, doanh nghiệp A có thể tính thêm 1,7 tỷ từ chi phí lãi không được trừ của năm 2020 để đủ 5,7 tỷ. Sau kì tính thuế năm 2021, doanh nghiệp A còn 5,1 tỷ chi phí lãi không được trừ.
Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ, doanh nghiệp A chỉ được chuyển đến hết kì tính thuế năm 2025.
Doanh nghiệp nên ngừng “kêu ca”?
Đến cuối năm 2020, nhiều doanh nghiệp “điêu đứng” vì bị quy chụp vào mối quan hệ liên kết. Trong thời gian áp dụng Nghị Định 20, doanh nghiệp đã không điều chỉnh tổng chi phí lãi vay trong kì tính thuế phát sinh đúng quy định nên phần chi phí lãi vượt mức sẽ phải chịu thuế. Trước hiện trạng vay vốn gấp 7 đến 8 lần so với vốn sở hữu thì gánh nặng lãi suất và thuế trên lãi suất khiến doanh nghiệp khó mà trụ vững. Đặc biệt là các công ty bất động sản khi vốn vay của họ đạt đến con số nghìn tỷ.
Tuy nhiên chúng ta cần xem xét hệ lụy khi doanh nghiệp cứ “mỏng vốn” trong đầu tư kinh doanh.
Hiện tượng “vốn mỏng” là “thủ thuật tránh thuế” của các doanh nghiệp có liên kết với nhau. Giả sử không có sự ra đời Nghị định 20 và Nghị định 132, các công ty mẹ lấy danh nghĩa cho công ty con của mình vay để núp bóng đầu tư vào các dự án. Trong kì tính thuế, công ty con sẽ được trừ chi phí lãi suất trả cho công ty mẹ ra khỏi thu nhập chịu thuế. Lãi suất phải trả càng cao thì thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty con càng thấp. Nhưng thật ra, các công ty con đang chuyển lợi nhuận về cho công ty mẹ dưới cái danh “trả nợ”.
Đối với công ty mẹ,thuế suất áp dụng cho thu nhập có được từ lãi cho vay (5%) thấp hơn so với thu nhập từ hoạt động kinh doanh (22%), vì vậy thông qua sự chuyển giá giữa công ty mẹ và công ty con, nghĩa vụ thuế đã được tối thiểu hóa một cách đáng kể.
Như vậy, ngân sách nhà nước đã thất thoát một khoản thuế lớn vì mối quan hệ liên kết này.
Ngoài ra, khi hợp tác kinh doanh, cần hết sức cẩn trọng đầu tư các dự án lớn với các công ty có vốn sở hữu nhỏ. Vì vốn đầu tư của các công ty này phần lớn huy động từ nguồn vay, nghĩa là họ đang “gánh” một khoản nợ lớn hơn khả năng thanh toán. Trường hợp các công ty này phá sản, liệu những chủ nợ khác thu lại được bao nhiêu trên số tiền mình đã bỏ ra.
Vì vậy, tại thời điểm Nghị định 20/2017/NĐ-CP có hiệu lực, các công ty đi vay vốn đầu tư có nghĩa vụ nghiên cứu và tuân thủ thay vì “làm ngơ” rồi lại kêu ca khi lãnh lấy hậu quả.
Thắt chặt khung pháp lý là cần thiết
Theo ông Đặng Ngọc Minh Phó tổng Cục trưởng Tổng cục Thuế – Bộ Tài chính “Nghị định 132 không chỉ giúp chống chuyển giá mà còn mục đích hạn chế những doanh nghiệp vốn mỏng. Đây là định hướng chung trong quản lý thuế, đó là thực hiện tái cơ cấu, lành mạnh hóa thị trường đầu tư, hạn chế bớt những doanh nghiệp vốn mỏng, dựa nhiều vào vốn vay quá mức để mở rộng đầu tư, gây rủi ro cho hệ thống trong dài hạn.”
Ông Phan Lê Thành Long Giám đốc Viện Kế toán quản trị công chứng Australia (CMA) cũng cho rằng: “Nghị định 132 được xây dựng theo quy tắc của OECD sẽ giúp hạn chế doanh nghiệp vốn mỏng và nâng cao trách nhiệm của họ khi vay vốn…Nghị định này góp phần hạn chế bớt những doanh nghiệp đi vay tỷ lệ lớn nhưng đầu tư vào dự án rủi ro và từ đó nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp khi đi vay”.
Qua những nhận định trên, theo các chuyên gia, thắt chặt kiểm soát vấn đề “vốn mỏng” của các doanh nghiệp là điều tất yếu để giữ gìn môi trường đầu tư lành mạnh, hạn chế rủi ro về vốn. Trên tinh thần đó, các doanh nghiệp nên hết sức cân nhắc vấn đề đi vay cũng như dự định tham gia các dự án có quy mô lớn.
Có thể thấy, sang đến Nghị định 132/2020/NĐ-CP, các cơ quan soạn thảo đã mở rộng tổng chi phí lãi được trừ để doanh nghiệp liên kết thích nghi và điều chỉnh vốn vay sao cho phù hợp. Tuy nhiên mức 30% vẫn chưa là con số đáng kể so với vốn vay khổng lồ của doanh nghiệp. Nhưng cũng không nên nhân nhượng trước những doanh nghiệp liều lĩnh, có thể là nguy cơ gây bất ổn cho nền kinh tế.