Thái cực FDI và doanh nghiệp Việt
Báo cáo Báo cáo Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam của WB cho rằng “Hoạt động của khu vực doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI là hai thái cực”, khu vực doanh nghiệp trong nước cũng có những thái cực của doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp Nhà nước. Đó là những thái cực tiêu biểu của nền kinh tế Việt Nam 2015.
Nội thái cực
Dự toán ngân sách Nhà nước 2014, số thu dự kiến từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước là 184.599 tỉ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) là 111.603 tỉ đồng, Thu từ khu vực ngoài quốc doanhlà 107.252 tỉ đồng. Nhìn con số có sự tương đồng giữa khu vực tư nhân và doanh nghiệp FDI, tuy nhiên xuất phát điểm và cơ hội tiếp cận không đồng nhất tạo ra những thái cực giữa hai khu vực kinh tế kinh.
Ngay trong cơ cấu ngành cũng có những dấu hiệu này, ngành khoáng sản – xăng dầu là quán quân về số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) với tỷ lệ đóng góp lên đến 36,4% tổng số thuế. Tiếp theo sau là ngành viễn thông, tin học, công nghệ thông tin (15,3%) và ngành tài chính (10,5%). Như vậy, các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành khai thác tài nguyên vẫn là các doanh nghiệp có lợi nhuận cao nhất trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.
Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản phải kể đến như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Thăm dò và Khai thác Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Khí Việt Nam… Điều này được các chuyên gia cho rằng, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế khai thác. Cần đẩy mạnh sự tăng trưởng ở các lĩnh vực như sản khác để đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Xét trong bối cảnh hiện nay, khi giá dầu thô trên thế giới giảm mạnh. Với cơ cấu về tỷ trọng khai khoáng chiếm khoảng 11% GDP, trong đó dầu thô chiếm khoảng 70-80%, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giả định nếu ngành khai thác dầu phải cắt giảm 30% sản lượng thì sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế, tăng trưởng GDP có thể suy giảm từ 0,8 điểm phần trăm đến 1,2%.
Điển hình trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Năm 2013, tổng doanh thu của Tập đoàn đạt 758 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách hơn 194 nghìn tỉ đồng. Năm 2014, tổng doanh thu 745,5 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách 178 nghìn tỉ đồng. Kế đến là Tập đoàn Viên thông Quân Đội Viettel, tổng doanh thu ước thực hiện gần 163 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách 17,5 nghìn tỉ đồng… phần lớn nguồn thu Ngân sách Nhà nước vẫn phụ thuộc vào nhóm 100 doanh nghiệp dẫn đầu với sự đóng góp tích cực của nhóm DNNN. Nhận định này hoàn toàn tương xứng với số liệu do Bộ Tài chính công bố trước đây về cơ cấu doanh thu khối DN theo loại hình hoạt động tính đến hết năm 2012, trong đó nhóm DNNN chiếm tỷ lệ 45% tổng doanh thu toàn khối doanh nghiệp, cao hơn con số 25,9% của nhóm DN nước ngoài và 29,1% của nhóm tư nhân trong nước.
Vai trò của kinh tế tư nhân đang được khẳng định, ngoài đóng góp cho ngân sách nhà nước, cũng đóng góp nhiều nhất vào GDP và tạo ra việc làm nhiều nhất, xấp xỉ 50% GDP và gần 90% số lao động. Thế nhưng, khu vực này hầu như không được hưởng ưu đãi nào, chưa kể những bất cập về chính sách, các cơ quan hành chính gây khó dễ, cơ chế xin – cho gây khó khăn không ít cho doanh nghiệp.
Chính điều này đã tạo ra một thái cực khác mang tính tiêu cực trong khu vực doanh nghiệp tư nhân, số lượng doanh nghiệp trong nước đóng cửa hoặc tạm ngừng hoạt động vẫn tăng. Năm 2013, tổng số doanh nghiệp đóng cửa hay ngừng hoạt động là 61.000 doanh nghiệp, tăng mạnh so với con số 47.000 của năm 2010. Trong 10 tháng đầu năm 2014, có thêm 54.000 doanh nghiệp rơi vào tình trạng này – tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Lo ngại chính nằm chỗ cùng giai đoạn này, số lượng doanh nghiệp mới thành lập lại giảm 6,5%.
Điều này phù hơp với nhận định của WB “Doanh nghiệp trong nước dường như chịu tác động bởi các yếu tố tiếp cận nguồn vốn hạn chế, nhu cầu tiêu dùng trong nước thấp và sân chơi bất bình đẳng so với khu vực doanh nghiệp Nhà nước”.
Ông Sandeep Mahajan, chuyên gia kinh tế của WB đã lo ngại nhấn mạnh sự đối nghịch này kèm với khuyến nghị cần phải đẩy mạnh chính sách hỗ trợ khối doanh nghiệp tư nhân phát triển.“Khối doanh nghiệp tư nhân trọng nước mạnh hơn cũng là một giải pháp để tối ưu hóa tác động của FDI tới nền kinh tế, đưa khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu”, ông Sandeep Mahajan bình luận.
Ngoại lai
Ở thái cực này, khu vực doanh nghiệp có vón đầu tư nước ngoài (FDI) dường như không phải chịu quá nhiều áp lực của hệ thống quản lý trong nước. Thậm chí, còn được hưởng chính sách ưu đãi vượt trội so với khu vực tư nhân, khu vực này còn đang được xác định là nguồn tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Việt Nam.
“Khu vực này đóng góp 20% GDP, 22% tổng vốn đầu tư, 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và tạo ra ¼ việc làm cho khu vực doanh nghiệp chính thức”, Báo cáo nhận định và cho rằng, yếu tố thu hút các nhà đầu tư quốc tế của Việt Nam bao gồm giá nhân công cạnh tranh, lực lượng lao động tương đối có tay nghề và kỷ luật, tinh hình chính trị ổn định và vị trí liên kề chuỗi cung ứng của Trung Quốc
Khu vực được hưởng ưu đãi khá cao, chỉ đứng sau khu vực doanh nghiệp Nhà .nước về chính sách ưu đãi đầu tư. Theo đánh giá của cơ quan thuế, xét về trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế, các doanh nghiệp FDI cần thể hiện vai trò chủ động hơn nữa, tương ứng với tỷ trọng ngày càng lớn của nhóm doanh nghiệp FDI trong nền kinh tế Việt Nam. So với năm 2013, tình hình nộp thuế của doanh nghiệp FDI đã có những biến chuyển tích cực.
Cục thuế TP.HCM cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2014, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp FDI tăng 22% so với cùng kỳ năm 2013. Trong khối này, nổi bật lên một số công ty có số tiền đóng thuế thu nhập doanh nghiệp khá lớn và tăng vọt so với cùng kỳ như Công ty quốc tế Unilever Việt Nam, đóng hơn 1.132 tỷ đồng, tăng gần 78% so cùng kỳ, kế tiếp là Công ty Phú Mỹ Hưng nộp 718 tỷ đồng, tăng 15 lần và Công ty Pouyuen Việt Nam đóng hơn 200 tỷ đồng, tăng gần 157%.
Cũng phải nói thêm, ông Sandeep cho rằng, tốc độ tăng trưởng sáng sủa của dòng vốn FDI thời gian qua chứng tỏ niềm tin của cộng đồng đầu tư thế giới vào nền kinh tế Việt Nam.“Chúng tôi đã khảo sát các nhà quản lý của các doanh nghiệp FDI trong ngành chế tạo tại Việt Nam, họ đều lạc quan nói đến kế hoạch mở rộng hoạt động. Lần khảo sát vào tháng 9/2013 không cho được kết quả khả quan như vậy. Đặc biệt, trong khoảng 4-5 tháng trở lại đây, cộng với sự cải thiện đáng kể của môi trường kinh doanh toàn cầu, lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã tăng rất tốt”.
Tuy nhiên, ông này cũng đặt câu hỏi, Việt Nam được hưởng lợi gì từ quá trình đó. Các chính sách của Chính phủ đều thể hiện mong muốn thu hút vốn FDI vào sản xuất, chứ không chỉ lắp ráp, gia công xuất khẩu như hiện nay; mong muốn tối ưu hiệu quả FDI tại Việt Nam.
Một thái cực khác, tạo lên sự bất ổn trong đầu tư, khi có những “đại gia” FDI từ khi đầu tư đến nay vẫn chưa đóng đồng thuế thu nhập doanh nghiệp nào. Điển hình phải kể đến CocaCola Việt Nam Cục Thuế TP HCM đang liệt Công ty Coca Cola Việt Nam vào vị trí số một trong danh sách doanh nghiệp nghi vấn có dấu hiệu chuyển giá. Trong khi đó, Giữa tháng 6.2014, CocaCola khánh thành 4 dây chuyền sản xuất mới tại Việt Nam. Cơ sở hạ tầng mới này là một phần của gói đầu tư 300 triệu USD tại Việt Nam trong giai đoạn 2013-2015. Tiếp theo là Pepsi. Co, kể từ khi thành lập cho tới năm 2006, Pepsi cũng liên tục lỗ. Năm 2007 là năm đầu tiên PepsiCo có lãi, với tổng thu nhập chịu thuế là 58 tỷ đồng. Nhưng vì vẫn được điều chỉnh chuyển lỗ, nên công ty chưa phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Năm 2008, Pepsi lại lỗ 58 triệu đồng, sang năm 2009 lãi 141 tỷ đồng. Còn số lãi của năm 2010 là 137 tỷ đồng, năm 2011 là 191 tỷ đồng. Tuy nhiên, do vẫn được điều chuyển lỗ (từ năm 1991, lỗ lũy kế tính đến ngày 31/12/2010 là 1.206 tỷ đồng) nên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp mà công ty này đã nộp từ năm 2009 cho đến 2013 chỉ là 40,2 tỷ đồng.